Giỏ hàng

Bạn cần mua thêm 200,000₫ để được miễn phí vận chuyển

0₫
Giỏ hàng của bạn đang trống

Chưa có sản phẩm trong giỏ hàng...

16 dáng ấm tử sa kinh điển và cách chọn theo loại trà

16 dáng ấm tử sa kinh điển và cách chọn theo loại trà

Dáng ấm tử sa nổi tiếng nhiều khi bắt đầu từ những vật rất đời thường: một quả bưởi, một quả cân, một viên ngói đời Hán, một vòng thành giếng. Từ những hình ấy, thợ gốm Nghi Hưng (宜兴, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc) nặn ra các dáng ấm mà giới uống trà gọi tên suốt mấy trăm năm. Bài này gom đủ 16 dáng ấm tử sa kinh điển, ghi lại nguồn gốc đã đối chiếu tư liệu, cách nhận ra từng dáng qua thân, nắp, núm, vòi, quai, rồi chỉ cách chọn dáng hợp với trà Thái Nguyên mà nhà mình vẫn uống.

Tóm tắt nhanh

  • Đất tử sa là đất của vùng Nghi Hưng (thị trấn Đinh Thục), tỉnh Giang Tô. Tên một dáng ấm tử sa chỉ nói về hình dáng, không nói ấm làm bằng đất gì.
  • 16 dáng trong bài: Tây Thi, Văn Đán, Mỹ Nhân Kiên, Chuyết Cầu, Tử Dã Thạch Biều, Cảnh Chu Thạch Biều, Tỉnh Lan, Tần Quyền, Hán Ngõa, Đức Chung, Phỏng Cổ, Phan Hồ, Dung Thiên, Thủy Bình, Tiếu Anh, Cung Xuân.
  • Muốn nhận dáng, nhìn năm chỗ: thân, kiểu nắp, núm, vòi và quai.
  • Trà Thái Nguyên hợp ấm 150–250ml, miệng vừa hoặc rộng, rót nhanh. Liều tham khảo 5–7g trà cho 150ml nước, nước 85–90°C, nước đầu hãm 20–30 giây.
  • Ấm bán ở Thuận Trà là gốm Việt (Bát Tràng và xưởng An Thổ Túc), không phải đất Nghi Hưng. Chúng tôi ghi rõ điều này ở mục cuối bài.

Dáng ấm tử sa là gì, vì sao tên gọi lại nhiều đến vậy

"Tử sa" (紫砂) nghĩa là cát tím, chỉ loại đất sét có nhiều hạt khoáng ở quanh Nghi Hưng. Theo bách khoa Wikipedia, những chiếc ấm tử sa đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 16, gắn với các nhà sư chùa Kim Sa. Đất được khai thác quanh vùng Đinh Thục, phía tây hồ Thái Hồ. Từ đó, mỗi đời thợ lại để lại những dáng ấm mới, nhiều dáng được chép tên vào sách.

Người chơi ấm thường chia các dáng ấm tử sa thành ba nhóm lớn. Nhóm ấm trơn (quang khí) chỉ dựa vào đường nét, không trang trí, như Tây Thi, Đức Chung, Thủy Bình. Nhóm ấm hình tượng (hoa khí) mô phỏng cây trái, gốc cây, như Cung Xuân. Nhóm ấm múi (cân văn khí) chia thân thành các múi như quả bí. Mười sáu dáng trong bài này phần lớn thuộc nhóm ấm trơn, vì đó là nhóm người mua hay hỏi khi chọn ấm pha trà hằng ngày.

Tên gọi nhiều là vì mỗi dáng có cả tên gốc, tên đời sau sửa lại và tên theo người làm. Ví dụ ấm Tây Thi ban đầu gọi là "Tây Thi nhũ", sau mới thành "Đảo bả Tây Thi". Ấm Thạch Biều xưa viết là "thạch điếu", đến năm 1948 mới đổi chữ. Vì vậy, cùng một dáng ấm tử sa có thể gặp hai ba cái tên trên các trang bán hàng.

Cách nhận ra một dáng ấm tử sa qua 5 bộ phận

Trước khi đi vào từng dáng, nên biết năm chỗ để nhìn. Khi đã quen, chỉ cần liếc qua một chiếc ấm là đoán được nó thuộc dáng nào.

  • Thân ấm: tròn đầy, tròn dẹt, hình trụ, hình chuông hay hình kim tự tháp. Đây là chỗ quyết định tên dáng.
  • Kiểu nắp: nắp cắt (cắt ngang từ chính khối thân, nhìn liền một đường), nắp áp (đặt chồng lên miệng, rộng hơn miệng), nắp khảm (lọt hẳn vào miệng, mặt nắp nối liền với vai ấm).
  • Núm: núm tròn như hạt châu, núm dẹt, núm cầu (hình chiếc cầu nhỏ), núm trụ.
  • Vòi: vòi thẳng, vòi một cong, vòi ba cong. Vòi thẳng ra nước gọn; vòi ba cong mềm mại nhưng khó làm hơn.
  • Quai: quai tai ngược (đầu quai vểnh lên rồi thu vào), quai vòng tròn, quai tam giác.

Nhóm dáng tròn mềm: Tây Thi, Văn Đán, Mỹ Nhân Kiên, Chuyết Cầu

Đây là bốn dáng ấm tử sa có đường cong mềm, dễ cầm, dễ dùng. Người mới chơi ấm thường bắt đầu từ nhóm này.

1. Ấm Tây Thi – dáng ấm tử sa tròn đầy, quai tai ngược

Nguồn gốc: Theo Bách khoa Baidu, dáng này do thợ Từ Hữu Tuyền (徐友泉) làm ra vào thời Vạn Lịch nhà Minh, tên gốc là "Tây Thi nhũ". Người đời sau thấy tên ấy kém nhã nên gọi theo cái quai, thành "Đảo bả Tây Thi", tức Tây Thi quai ngược. Từ Hữu Tuyền là người đầu tiên có tên trong sử sách được ghi là đã làm dáng ấm này.

Nhận diện: thân tròn căng như một bầu sữa, vòi ngắn và mập, quai kiểu tai ngược, nắp cắt nên nắp và thân liền một khối, núm tròn nhỏ, đáy thu vào.

Hợp với: ấm Tây Thi hay gặp ở cỡ 120–250ml. Lòng tròn cho cánh trà xoay đều, vòi ngắn rót nhanh, nên hợp trà xanh búp nhỏ, nõn tôm và trà đinh pha cho hai, ba người.

Lưu ý thực tế: quai tai ngược khá ngắn, ấm trên 250ml cầm sẽ nặng cổ tay. Người tay nhỏ nên chọn cỡ 150ml. Nếu chỉ thích dáng mà không cần đất Nghi Hưng, có thể xem ấm trà Tây Thi 150ml gốm mộc An Thổ Túc: cùng dáng tròn quai ngược, làm bằng đất Việt.

2. Ấm Văn Đán – dáng ấm tử sa lấy hình quả bưởi

Nguồn gốc: Văn Đán thuộc nhóm ấm tròn, có từ khoảng cuối Minh đầu Thanh. Nhiều tư liệu cho rằng dáng này cũng bắt nguồn từ Từ Hữu Tuyền. Tên gọi có hai cách giải thích: một là theo quả bưởi văn đán (文旦柚), hai là theo tên một người thợ nặn tên Văn Đán. Cả hai đều là cách giải thích được lưu truyền, chưa có văn bản gốc khẳng định.

Nhận diện: rất giống Tây Thi nhưng thân thấp và chắc hơn, đường nét "cổ chuyết" (mộc, hơi vụng có chủ ý) chứ không yểu điệu. Vòi ngắn một cong hơi vểnh lên, quai tai ngược, nắp cắt, núm tròn dẹt, đáy thu.

Ấm tử sa thân tròn đầy, nắp nhô núm tròn, dáng ấm tử sa kiểu Văn Đán đặt trên lòng bàn tay

Ảnh minh họa: ấm tử sa thân tròn, nắp nhô, dáng gần với Văn Đán.

Hợp với: theo cách chia cỡ trong tư liệu Trung Quốc, ấm nhỏ dưới 150ml, ấm vừa khoảng 200ml, ấm lớn trên 250ml. Với trà Thái Nguyên, cỡ 180–220ml là vừa cho bàn ba người, pha trà móc câu hay nõn tôm đều ổn.

Lưu ý thực tế: muốn tách Văn Đán với Tây Thi thì nhìn chiều cao thân và độ vểnh của vòi. Văn Đán lùn và chắc hơn, Tây Thi tròn căng và mềm hơn.

3. Ấm Mỹ Nhân Kiên – vai ấm liền nắp như bờ vai người đẹp

Nguồn gốc: Mỹ Nhân Kiên nghĩa là "vai người đẹp". Bách khoa Baidu ghi dáng này cũng do Từ Hữu Tuyền thời Minh làm, sửa lại từ hình bình mai (梅瓶) của đồ sứ. Dáng này còn được gọi là "viên châu hồ" (ấm hạt châu tròn).

Nhận diện: vai ấm đầy và tròn rồi thu dần xuống đáy, cả thân như một tam giác ngược mềm. Nắp khảm lọt vào miệng, mặt nắp nối liền một đường với vai, không thấy gờ. Núm cao hình giọt nước hoặc hạt châu, vòi ba cong, quai tai rộng.

Ấm tử sa Mỹ Nhân Kiên vai đầy thu dần xuống đáy, vòi cong dài, nắp khảm liền vai

Ảnh minh họa: dáng vai đầy thu dần xuống đáy của Mỹ Nhân Kiên.

Hợp với: các bản hiện đại thường từ 170ml đến hơn 300ml. Thân cao, nắp kín nên giữ nhiệt tốt, hợp hồng trà, ô long. Pha trà xanh Thái Nguyên bằng dáng này thì nên rót sớm, đừng để trà ngâm lâu trong ấm.

Lưu ý thực tế: đây được coi là một trong những dáng ấm tử sa khó làm vì nắp khảm phải khít mà vẫn liền nét. Khi mua, xoay nắp một vòng: khe hở đều, không lắc lọc cọc là ấm làm kỹ.

4. Ấm Chuyết Cầu – ba khối cầu chồng lên nhau

Nguồn gốc: Chữ "chuyết" (掇) ở đây có nghĩa là xếp chồng lên, "chuyết cầu" là những quả cầu xếp chồng. Theo Bách khoa Baidu, dáng này do Thiệu Đại Hanh (邵大亨), thợ ấm lớn đời Thanh, làm ra, sau đó có ba bản nổi tiếng: bản của Thiệu Đại Hanh thân tròn chắc, vòi ngắn chúi về trước; bản của Thiệu Hữu Đình cổ cao hơn, miệng rộng hơn; bản của Trình Thọ Trân cho núm, nắp và thân thành ba khối cầu chồng lên nhau, nắp tròn như nửa quả cầu.

Nhận diện: nhìn nghiêng thấy rõ ba khối tròn từ nhỏ đến lớn: núm, nắp, thân. Vòi ngắn, quai vòng cân đối.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 200–400ml. Bụng tròn rộng cho cánh trà xoăn nở hết, nên rất hợp trà móc câu và trà bắc pha cho cả nhà.

Lưu ý thực tế: nắp hình nửa cầu khá nặng, rót nghiêng sâu dễ trượt. Khi rót nên đặt một ngón tay giữ núm. Năm 2019, một chiếc ấm Chuyết Cầu của Cố Cảnh Chu được đấu giá 11,5 triệu nhân dân tệ (theo Bách khoa Baidu), đủ thấy dáng này được giới sưu tầm quý thế nào.

Ấm Thạch Biều và hai bản nổi tiếng: Tử Dã, Cảnh Chu

Thạch Biều là dáng ấm tử sa được nhắc tới nhiều trong giới chơi ấm. Tên gốc là "thạch điếu" (石铫), nghĩa là cái siêu có vòi, có quai để đun nước. Thi sĩ Tô Thức đời Tống từng nhắc tới "thạch điếu" trong bài thơ về pha trà. Tương truyền Tô Đông Pha khi ở Nghi Hưng đã cho làm một chiếc siêu đất có quai xách để nấu trà, nhưng đây là chuyện kể, không có hiện vật chứng minh.

Đến đời Gia Khánh nhà Thanh, văn nhân Trần Mạn Sinh (陈曼生, 1768–1822) cùng thợ Dương Bành Niên (杨彭年) sửa dáng thành kiểu trên nhỏ dưới to, trọng tâm thấp, vòi thẳng ngắn. Năm 1948, Cố Cảnh Chu (顾景舟) mượn câu "nhược thủy tam thiên, chỉ thủ nhất biều" (ba nghìn dòng nước, chỉ lấy một gáo) để đổi chữ "điếu" thành "biều". Từ đó tên "Thạch Biều" được dùng phổ biến.

Nhận diện chung: mọi bộ phận đều có hình tam giác. Thân như kim tự tháp thấp, quai tam giác, vòi thẳng, núm cầu, nắp phẳng.

5. Tử Dã Thạch Biều – dáng cao, ba chân đinh

Nguồn gốc: mang tên Cù Ứng Thiệu (瞿应绍, 1778–1849), hiệu Tử Dã, người Tùng Giang (Thượng Hải ngày nay), một văn nhân giỏi thư họa và khắc ấn. Những chiếc Thạch Biều gắn với tên ông thường có tranh và chữ khắc trên thân.

Nhận diện: thân cao hơn bản Cảnh Chu, các cạnh tam giác gọn và sắc, dưới đáy thường có ba chân đinh nhỏ, nhìn như cái đỉnh ba chân.

Ấm Thạch Biều kiểu Tử Dã, dáng ấm tử sa thân hình tháp, núm cầu, ba chân đinh, vẽ cá vàng và lá sen

Ảnh minh họa: ấm Thạch Biều thân hình tháp, núm cầu, ba chân đinh dưới đáy.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 180–300ml. Đáy rộng cho cánh trà nằm trải ra, vòi thẳng rót mạnh, hợp ô long, hồng trà, phổ nhĩ. Với trà xanh Thái Nguyên vẫn dùng tốt nếu rót ngay khi đủ giờ.

Lưu ý thực tế: ba chân đinh làm ấm đứng vững, nhưng đặt lên khay ướt dễ đọng nước dưới đáy. Lau khô chân ấm sau mỗi lần dùng.

6. Cảnh Chu Thạch Biều – dáng thấp, bụng đầy

Nguồn gốc: Cố Cảnh Chu (1915–1996) là bậc thầy ấm tử sa thế kỷ 20. Theo báo Nhân dân nhật báo (bản hải ngoại, 2016), mùa thu năm 1948 ông làm sáu chiếc ấm Thạch Biều gửi lên Thượng Hải, các họa sĩ Ngô Hồ Phàm, Giang Hàn Đình vẽ trúc, vẽ mai lên thân. Khi nung hỏng một chiếc, còn lại năm chiếc. Hai trong số đó về sau được đấu giá 23,5 triệu và 38 triệu nhân dân tệ.

Nhận diện: thân thấp hơn, bụng căng đầy hơn bản Tử Dã, giới chơi ấm gọi là "mãn biều" (gáo đầy). Vai tròn hơn, trọng tâm thấp, nhìn chắc và có lực.

Hợp với: cỡ 200–300ml hay gặp nhất. Lòng rộng hợp trà cánh to và trà cần nở, như ô long viên, hồng trà, móc câu.

Lưu ý thực tế: tên "Cảnh Chu Thạch Biều" bây giờ là tên dáng, ai cũng làm được. Ấm mang tên dáng này không có nghĩa là ấm do Cố Cảnh Chu làm.

Nhóm dáng văn nhân: Tỉnh Lan, Tần Quyền, Hán Ngõa

Ba dáng ấm tử sa này gắn với giới văn nhân đời Thanh. Thân ấm thường có mặt phẳng rộng để khắc chữ, vẽ tranh, mỗi chiếc kèm một câu minh mang ý riêng.

7. Ấm Tỉnh Lan – dáng ấm tử sa lấy hình thành giếng

Nguồn gốc: Tỉnh Lan nghĩa là lan can giếng. Theo Bách khoa Baidu, dáng này do Trần Mạn Sinh thiết kế, Dương Bành Niên làm, thuộc bộ "Mạn Sinh thập bát thức". Tương truyền một hôm hai ông ngồi trong sân, thấy người hầu cúi mình múc nước bên giếng, đường lưng cong và vòng thành giếng gợi ra dáng ấm. Tư liệu khác lại kể Trần Mạn Sinh lấy mẫu từ một thành giếng cổ đời Đường ở chùa Linh Lăng, huyện Lật Dương. Câu minh hay khắc trên ấm Tỉnh Lan mang ý: kiến thức như nước giếng, phải múc mãi thì mới đủ dùng.

Nhận diện: thân hình trụ hoặc trụ hơi loe xuống đáy, thành thẳng. Nắp khảm, núm cầu hoặc núm trụ, vòi một cong, quai vòng. Về sau có thêm các bản Tỉnh Lan cao, Tỉnh Lan thấp, Tỉnh Lan vuông.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 200–350ml. Thân thẳng nên cho trà vào và đổ bã rất dễ. Đây là dáng dễ dùng với trà bắc, trà búp pha ấm đầy cho bàn bốn người.

Lưu ý thực tế: mặt thân phẳng thường được khắc chữ. Ấm khắc tay có nét sâu, đều; ấm in hoa văn thì nét nông và giống hệt nhau giữa các chiếc.

8. Ấm Tần Quyền – dáng ấm tử sa theo quả cân đời Tần

Nguồn gốc: "Quyền" là quả cân. Tần Thủy Hoàng thống nhất đo lường, quả cân đời Tần thành chuẩn, nên dáng ấm này được đặt tên Tần Quyền. Bách khoa Baidu ghi lại một chiếc ấm Tần Quyền đời Thanh do Lâm Viên làm, khắc câu thơ đại ý: chở thuyền trà xuân đến Đào Nguyên bán, tự khắc có người mang cân tới. Một chiếc Tần Quyền đời Đạo Quang mang tên Dương Bành Niên cũng từng xuất hiện ở phiên đấu giá Tây Linh Ấn Xã.

Nhận diện: thân như quả cân, vai xuôi, không có đường eo, đáy phẳng. Vòi ngắn, quai tai vòng, nắp khảm hơi phồng, núm hình cầu nhỏ.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 200–400ml. Thân cao, đáy rộng giữ nhiệt tốt, hợp hồng trà, ô long đậm, phổ nhĩ. Pha trà xanh thì mở nắp ngay sau khi rót để trà không bị "chín" trong ấm.

Lưu ý thực tế: đây là dáng nặng tay khi đầy nước. Nên chọn ấm có quai rộng vừa ba ngón tay.

9. Ấm Hán Ngõa – lấy cảm hứng từ ngói đời Hán

Nguồn gốc: Hán Ngõa lấy ý từ đầu ngói (ngõa đang) đời Hán, loại ngói tròn ở mép mái, có chữ hoặc vân mây. Các tư liệu Trung Quốc đều nói dáng này chưa có sử liệu rõ về người làm đầu tiên, chỉ biết nó thành hình trong trào lưu ấm văn nhân đời Thanh. Chúng tôi ghi đúng như vậy, không gán cho ai.

Nhận diện: thân thấp, dẹt, rộng ngang, đáy phẳng. Mặt ấm rộng như mặt ngói, rất hợp để khắc vẽ. Nắp rộng, vòi thẳng ngắn, quai vòng.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 200–400ml. Lòng ấm rộng cho cánh trà nở hết, miệng rộng nên nhiệt thoát nhanh. Với trà xanh Thái Nguyên, điểm này lại là ưu thế vì trà ít bị nồng.

Lưu ý thực tế: ấm dẹt rót đến cuối thường còn đọng một ít nước ở đáy. Nghiêng hẳn ấm khi rót nước cuối để trà không bị ngâm sang lượt sau.

Nhóm dáng đứng vững: Đức Chung, Phỏng Cổ, Phan Hồ, Dung Thiên

Bốn dáng ấm tử sa này có trọng tâm thấp hoặc thân chắc, hợp bàn trà gia đình và những ấm pha nhiều nước.

10. Ấm Đức Chung – dáng chuông của người quân tử

Nguồn gốc: Theo Bách khoa Baidu, Đức Chung do Thiệu Đại Hanh làm vào đời Gia Khánh nhà Thanh. Tên gọi có chỗ tranh luận là "Đức Chung" hay "Chung Đức", nhưng hình dáng thì thống nhất. Cố Cảnh Chu từng khen dáng này đức độ, giản dị, nho nhã. Năm 2010, một chiếc Đức Chung lớn của Thiệu Đại Hanh được bán 4,816 triệu nhân dân tệ.

Nhận diện: thân như quả chuông úp, vai rõ, vòi thẳng, quai đứng. Nắp thường có nhiều tầng, núm cao.

Dáng ấm tử sa Đức Chung đất vàng thân hình chuông, nắp nhiều tầng, núm cao

Ảnh minh họa: ấm Đức Chung thân hình chuông, nắp nhiều tầng.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 250–450ml. Dáng chắc, dung tích lớn, hợp trà bắc và trà móc câu pha ấm đầy cho bàn bốn, năm người.

Lưu ý thực tế: nắp nhiều tầng có khe nhỏ dễ đọng bã trà. Rửa xong nên úp ngược nắp cho ráo.

11. Ấm Phỏng Cổ – "theo lối xưa" nhưng vẫn rất dễ dùng

Nguồn gốc: Phỏng Cổ nghĩa là làm theo lối xưa. Bách khoa Baidu xếp đây là một trong những dáng kinh điển đời Thanh, do Thiệu Đại Hanh làm ra đầu tiên rồi được thợ đời sau làm lại thành mẫu chuẩn.

Nhận diện: thân tròn hơi dẹt, vai rõ. Nắp áp hơi phồng, núm tròn dẹt, vòi một cong ngắn, quai vòng. Tổng thể cân và có trọng tâm thấp.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 200–400ml. Đây là dáng ấm tử sa "đa năng", pha trà xanh, nõn tôm hay hồng trà đều được, miễn chọn đúng cỡ theo số người.

Lưu ý thực tế: vì nhiều người làm, chất lượng Phỏng Cổ trên thị trường chênh nhau rất xa. Hãy nhìn đường vai có đều hai bên không, vòi và quai có thẳng hàng không.

12. Ấm Phan Hồ – dáng ấm duy nhất mang tên một dòng họ

Nguồn gốc: Theo Bách khoa Baidu, tên dáng lấy từ Phan Sĩ Thành (潘仕成), một quan chức kiêm thương gia giàu có cuối đời Thanh, quê Phiên Ngung, Quảng Đông. Nhà ông vốn mê trà nên đặt riêng ấm ở Nghi Hưng để dùng và làm quà. Ấm của nhà họ Phan thường đóng ấn chữ "Phan" ở mép nắp chứ không đóng dưới đáy. Người đời gọi luôn dáng ấy là Phan Hồ. Ở vùng Mân Nam, ấm Phan từng là món hồi môn, gửi gắm mong con gái về nhà chồng được sung túc.

Nhận diện: có ba bản. Cao Phan thân cao dáng quả lê; Ải Phan thân dẹt như quả hồng; Trung Phan thân gần như quả cầu hơi dẹt. Bản cũ dùng nắp áp, về sau có thêm gờ miệng.

Ấm tử sa đất xanh thân tròn khắc thư pháp, dáng gần với ấm Phan Hồ bản Trung Phan

Ảnh minh họa: ấm đất xanh thân tròn khắc chữ, dáng gần với Trung Phan.

Hợp với: bản cổ thường là ấm nhỏ đất chu nê; bản hiện nay hay gặp ở cỡ 150–250ml. Hợp trà Thái Nguyên pha cho hai, ba người.

Lưu ý thực tế: ấn chữ "Phan" là một phần của dáng ấm tử sa truyền thống này, không phải dấu hiệu ấm cổ hay ấm của nhà họ Phan.

13. Ấm Dung Thiên – dáng ấm tử sa bụng lớn chứa cả thiên hạ

Nguồn gốc: Dung Thiên là dáng ấm tử sa hiện đại, do Lã Nghiêu Thần (吕尧臣, sinh năm 1940), đại sư mỹ nghệ Trung Quốc, sáng tạo. Ông lấy hình bụng lớn của Phật Di Lặc, đặt tên theo câu "bụng lớn chứa được việc thiên hạ". Các bản đầu thân thấp, về sau cao dần.

Nhận diện: thân tròn căng, có cổ thấp, nắp cao như nửa quả cầu. Dáng tròn đầy, có chút hồn nhiên.

Ấm tử sa bụng tròn căng, cổ thấp, nắp vòm kiểu Dung Thiên đặt trên khay tre

Ảnh minh họa: ấm bụng tròn, cổ thấp, nắp vòm kiểu Dung Thiên.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 200–400ml. Bụng lớn hợp phổ nhĩ, hồng trà, và cả trà bắc pha cho gia đình.

Lưu ý thực tế: Dung Thiên mới có từ nửa sau thế kỷ 20. Nếu ai giới thiệu "ấm Dung Thiên cổ hàng trăm năm" thì nên hỏi lại.

Nhóm dáng nhỏ và dáng cổ: Thủy Bình, Tiếu Anh, Cung Xuân

14. Ấm Thủy Bình – dáng ấm tử sa nhỏ của lối pha công phu

Nguồn gốc: Theo Bách khoa Baidu, Thủy Bình là dáng ấm nhỏ khoảng 160ml dùng pha trà công phu. Khi pha, ấm được đặt vào bát nước nóng, ấm phải nằm cân bằng, nên thợ phải tính sao cho vòi, quai và thân nặng ngang nhau. Từ đó có tên Thủy Bình (bằng mặt nước). Thợ Huệ Mạnh Thần (惠孟臣) cuối Minh đầu Thanh nổi tiếng với dáng này, đến mức vùng Mân Nam có câu "ấm thì phải Mạnh Thần".

Nhận diện: thân tròn nhỏ, quai vòng, vòi thẳng, núm tròn như hạt. Bản truyền thống hay làm bằng đất chu nê màu đỏ.

Hợp với: 100–160ml, một đến hai người. Rất hợp trà đinh và nõn tôm pha kiểu nhiều nước ngắn, mỗi nước rót cạn.

Lưu ý thực tế: ấm nhỏ nóng rất nhanh. Với trà xanh Thái Nguyên, để nước sôi nguội xuống 85–90°C rồi mới rót vào ấm.

15. Ấm Tiếu Anh – dáng chắc nặng, ít tư liệu

Nguồn gốc: Bách khoa Baidu chỉ ghi ngắn gọn rằng Tiếu Anh là dáng ấm có từ đời Minh. Tên gọi thường được giải thích bằng điển "Anh Ninh cười một tiếng tan nghìn sầu", gợi tinh thần hòa nhã. Đây là cách giải thích được truyền miệng, chúng tôi chưa tìm được văn bản gốc nào xác nhận.

Nhận diện: tư liệu mô tả dáng này "nặng, chắc", khối tròn đầy, đường nét dứt khoát chứ không mềm như Tây Thi. Vì các xưởng làm Tiếu Anh khá khác nhau, khi mua nên nhờ người bán chỉ rõ đặc điểm dáng ngay trên ấm.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 200–300ml. Dáng chắc giữ nhiệt tốt, hợp ô long, hồng trà.

Lưu ý thực tế: với dáng ít tư liệu như Tiếu Anh, đừng trả giá cao chỉ vì cái tên.

16. Ấm Cung Xuân – dáng bướu cây của người được coi là ông tổ

Nguồn gốc: Trong 16 dáng ấm tử sa ở bài này, Cung Xuân có câu chuyện lâu đời hơn cả. Cung Xuân (供春) là tên một người. Tương truyền thời Chính Đức nhà Minh, Cung Xuân là gia đồng của Ngô Di Sơn (Ngô Sĩ, đỗ tiến sĩ năm 1514). Khi theo chủ lên chùa Kim Sa ở Nghi Hưng đọc sách, Cung Xuân học lén cách làm ấm của sư trong chùa, rồi nặn một chiếc ấm theo hình bướu cây ngân hạnh trong sân chùa. Bách khoa Baidu ghi một chiếc ấm bướu cây có dòng chữ ghi tên người làm là Cung Xuân hiện được bảo tàng ở Bắc Kinh lưu giữ.

Nhận diện: bề mặt sần, có vân như bướu gỗ, màu nâu hạt dẻ, dáng mộc, không đối xứng tuyệt đối.

Hợp với: hay gặp ở cỡ 200–350ml. Hợp trà bắc, trà búp uống hằng ngày.

Lưu ý thực tế: bề mặt sần dễ bám bụi và vệt trà. Nên lau bằng khăn mềm khi ấm còn ấm, dùng bàn chải lông mềm cho các khe sâu.

Bảng so sánh 16 dáng ấm tử sa

Bảng dưới gom lại điểm nhận diện chính của các dáng ấm tử sa trong bài. Dung tích là khoảng hay gặp trên thị trường, mỗi xưởng có thể làm khác.

Dáng ấmNhận diện nhanhDung tích hay gặpHợp trà gì
Tây ThiThân tròn căng, quai tai ngược, nắp cắt120–250mlTrà xanh búp nhỏ, nõn tôm, trà đinh
Văn ĐánGiống Tây Thi nhưng lùn, chắc hơn, vòi hơi vểnh150–250mlMóc câu, nõn tôm
Mỹ Nhân KiênVai đầy thu xuống đáy, nắp khảm liền vai170–330mlHồng trà, ô long
Chuyết CầuNúm, nắp, thân là ba khối cầu chồng200–400mlMóc câu, trà bắc
Tử Dã Thạch BiềuThân tháp cao, núm cầu, ba chân đinh180–300mlÔ long, hồng trà, phổ nhĩ
Cảnh Chu Thạch BiềuThân tháp thấp, bụng đầy, trọng tâm thấp200–300mlÔ long viên, hồng trà, móc câu
Tỉnh LanThân trụ thẳng như thành giếng, nắp khảm200–350mlTrà bắc, trà búp
Tần QuyềnThân như quả cân, đáy phẳng, núm cầu200–400mlHồng trà, ô long đậm, phổ nhĩ
Hán NgõaThân dẹt rộng, mặt phẳng để khắc vẽ200–400mlTrà xanh, móc câu, ô long
Đức ChungThân hình chuông, nắp nhiều tầng, vòi thẳng250–450mlTrà bắc, móc câu pha ấm đầy
Phỏng CổThân tròn hơi dẹt, vai rõ, nắp áp200–400mlĐa năng: trà xanh đến hồng trà
Phan HồBa bản Cao, Trung, Ải; ấn chữ "Phan" ở mép nắp150–250mlTrà Thái Nguyên pha 2–3 người
Dung ThiênBụng tròn căng, cổ thấp, nắp nửa cầu200–400mlPhổ nhĩ, hồng trà, trà bắc
Thủy BìnhẤm nhỏ cân bằng, quai vòng, vòi thẳng100–160mlTrà đinh, nõn tôm, ô long
Tiếu AnhKhối tròn chắc nặng, nét dứt khoát200–300mlÔ long, hồng trà
Cung XuânBề mặt sần vân bướu cây, dáng mộc200–350mlTrà bắc, trà búp

Chọn dáng ấm tử sa theo từng loại trà Thái Nguyên

Trà xanh Thái Nguyên là trà sao, không lên men. Nước pha cần nóng vừa, hãm ngắn, rót nhanh. Vì vậy dáng ấm hợp là dáng không giữ nhiệt quá lâu, miệng vừa hoặc rộng, vòi ra nước gọn. Liều tham khảo của xưởng: 5–7g trà cho 150ml nước, nước 85–90°C, nước đầu hãm 20–30 giây, mỗi nước sau thêm 5–10 giây. Bảng thông số cho từng dòng trà có trong bài cách pha trà Thái Nguyên ngon.

Trà đinh: ấm nhỏ, rót nhanh

Trà đinh hái búp non chưa nở, cánh nhỏ và chắc, ra nước nhanh. Hợp là ấm nhỏ 100–150ml như Thủy Bình hay Tây Thi cỡ nhỏ, pha nhiều nước ngắn, mỗi nước rót cạn. Ở xưởng, người làm trà thường hãm trà đinh khoảng 30 giây. Xem các hạng trà ở trang trà đinh Thái Nguyên, ví dụ Trà Đinh Ngọc.

Trà nõn tôm: ấm tròn cỡ vừa

Nõn tôm là búp một tôm một nõn, cánh mảnh, hương cốm rõ. Dáng tròn như Tây Thi, Văn Đán, Phan Hồ cỡ 150–200ml cho búp xoay đều, nước ra trong. Người làm trà ở xưởng hãm nõn khoảng 40–45 giây khi pha ấm vừa. Tham khảo các hạng trà nõn tôm.

Trà móc câu: ấm bụng rộng cho cánh nở

Cánh móc câu xoăn cong, khi gặp nước nở ra khá nhiều. Nên chọn dáng bụng rộng như Chuyết Cầu, Hán Ngõa, Cảnh Chu Thạch Biều, cỡ 200–250ml. Pha ấm lớn hãm một lần, xưởng thường để móc câu khoảng 50–60 giây. Xem Trà Móc Câu Đặc Biệt hoặc cả nhóm trà móc câu Thái Nguyên.

Ấm tử sa dáng dẹt thân thấp bụng rộng khắc cảnh sơn thủy, kiểu ấm cho cánh trà nở thoải mái

Ảnh minh họa: ấm dáng dẹt, bụng rộng, hợp trà cánh xoăn cần chỗ nở.

Trà bắc, trà búp uống hằng ngày: ấm lớn, dáng chắc

Trà bắc hái một tôm hai, ba lá, pha nhiều nước cho cả nhà. Dáng hợp là Đức Chung, Tỉnh Lan, Dung Thiên, Cung Xuân cỡ 300–450ml, hoặc dùng luôn ấm tích. Sản phẩm phổ biến của nhà là Trà Bắc Truyền Thống.

Dung tích dáng ấm tử sa và số người uống

Chọn dáng đẹp mà sai cỡ thì pha vẫn không ngon. Một cách tính đơn giản theo số người ngồi bàn:

  • 50–100ml: uống một mình, pha công phu từng ngụm.
  • 100–150ml: một đến hai người. Bộ Tử Sa Song Ẩm một ấm hai chén làm đúng cho tình huống này.
  • 150–250ml: hai đến bốn người, cỡ dễ dùng với trà Thái Nguyên. Ví dụ bộ Ngũ Ẩm Ấn Liên có ấm 180ml đi cùng năm chén.
  • 250–400ml: nhóm bạn, bàn trà gia đình. Bộ Tử Sa Khắc Trúc Bát Tràng có ấm 280ml đi cùng sáu chén.
  • Trên 400ml: gần với ấm tích, pha một lần uống cả buổi.

Mẹo nhỏ: lấy chén quân của nhà, đếm xem ấm rót được mấy chén. Mỗi người một chén mỗi lượt là vừa, không nên để trà ngâm lại trong ấm.

Ấm ở Thuận Trà: gốm Việt theo dáng ấm tử sa, không phải đất Nghi Hưng

Chúng tôi nói rõ điều này để quý khách chọn đúng thứ mình cần. Đất tử sa là đất của Nghi Hưng, Giang Tô. Những chiếc ấm Thuận Trà đang bán đều làm tại Việt Nam:

  • Nhóm ấm tử sa Bát Tràng gồm các bộ ấm chén do thợ làng gốm Bát Tràng làm theo dáng và màu đất kiểu tử sa. Tên "tử sa" ở đây chỉ kiểu ấm, không có nghĩa đất lấy từ Nghi Hưng.
  • Ấm gốm mộc của xưởng An Thổ Túc, ví dụ ấm Tây Thi 150ml hay ấm Quả Chuông 230ml, làm từ đất khoáng vàng Tam Chúc và phù sa cổ Tràng An.

Muốn xem toàn bộ ấm, chén, khay đang có, mời vào nhóm ấm và trà cụ. Nếu cần một chiếc ấm Nghi Hưng thật để sưu tầm, hãy tìm nơi chuyên ấm Nghi Hưng có giấy tờ nguồn gốc. Thứ chúng tôi làm tốt là trà Thái Nguyên và những chiếc ấm Việt dùng hằng ngày cho loại trà ấy. Cách chọn và phân biệt ấm Bát Tràng có trong bài ấm tử sa Bát Tràng: cách chọn, phép thử và bảng giá.

5 điều nên kiểm khi mua một chiếc ấm theo dáng

  1. Nắp: xoay một vòng, khe hở đều, không lắc. Chuyện "lật ngược ấm không rơi nắp mới là ấm tốt" chủ yếu do hình dạng lỗ thông khí, không nói lên tay nghề.
  2. Vòi: rót thử nước, dòng nước tròn, ngắt gọn, không nhỏ giọt xuống thân.
  3. Quai: cầm ấm đầy nước, cổ tay không bị kéo lệch. Vòi, núm, quai nên nằm trên một đường thẳng.
  4. Lỗ lọc: nhìn vào trong, lỗ lọc đều, không bị bít, nhất là khi pha trà cánh nhỏ như trà đinh.
  5. Đúng dáng, đúng tên: đối chiếu với phần nhận diện ở trên. Một chiếc ấm tròn bình thường được gọi là "Tây Thi" chưa chắc đã đúng dáng Tây Thi.

Mua ấm về, nên khai ấm trước khi dùng và giữ ấm khô ráo sau mỗi lần pha. Cách làm chi tiết có trong bài cách nuôi dưỡng ấm tử sa.

Dáng ấm tử sa – Câu hỏi thường gặp

Người mới nên chọn dáng ấm tử sa nào?

Nên bắt đầu với dáng tròn như Tây Thi, Văn Đán hoặc Phỏng Cổ, cỡ 150–200ml. Các dáng này dễ cầm, rót gọn, pha được hầu hết các loại trà, lại dễ rửa.

Ấm Tây Thi và ấm Văn Đán khác nhau thế nào?

Hai dáng cùng thân tròn, quai tai ngược, nắp cắt. Tây Thi tròn căng và mềm mại hơn; Văn Đán lùn, chắc, vòi một cong hơi vểnh lên, đường nét mộc hơn.

Tử Dã Thạch Biều và Cảnh Chu Thạch Biều khác nhau chỗ nào?

Tử Dã Thạch Biều thân cao, cạnh tam giác sắc, thường có ba chân đinh dưới đáy. Cảnh Chu Thạch Biều thân thấp, bụng đầy, vai tròn hơn, trọng tâm thấp hơn.

Pha trà Thái Nguyên nên dùng dáng ấm nào?

Trà đinh hợp ấm nhỏ như Thủy Bình, Tây Thi; nõn tôm hợp ấm tròn cỡ vừa; móc câu hợp ấm bụng rộng như Chuyết Cầu, Hán Ngõa; trà bắc hợp ấm lớn như Đức Chung, Tỉnh Lan. Nước 85–90°C, 5–7g trà cho 150ml, nước đầu 20–30 giây.

Ấm tử sa Bát Tràng có phải làm bằng đất Nghi Hưng không?

Không. Đất tử sa là đất của Nghi Hưng, Giang Tô. Ấm tử sa Bát Tràng là ấm gốm Việt làm theo dáng và màu kiểu tử sa. Thuận Trà ghi rõ điều này trên các trang sản phẩm.

Một ấm có nên pha nhiều loại trà khác nhau không?

Ấm gốm không men để lâu sẽ bám một lớp trà mỏng, nên giới uống trà hay dành riêng mỗi ấm cho một nhóm trà, ví dụ một ấm cho trà xanh, một ấm cho hồng trà. Nếu chỉ có một ấm, hãy tráng kỹ bằng nước sôi khi đổi loại trà.


Nguồn tham khảo

Trà Thái Nguyên hái tay, sao tại xưởng của hợp tác xã

Bài viết do HTX Tâm Trà Việt biên soạn — trồng và sao chè tại Đại Từ – La Bằng, Thái Nguyên, vùng nguyên liệu VietGAP, cơ sở chế biến ISO 22000:2018, bán thẳng tới người dùng không qua trung gian.

Trà uống hằng ngày · Trà đinh · Trà hoa · Hộp trà & quà tặng · Ấm & trà cụ

Nhắn Zalo 0855.318.678 — tư vấn chọn trà

Muốn bán lại tại địa phương: xem điều kiện mở đại lý chè Thái Nguyên.

Mua sỉ, mở đại lý hoặc đặt quà doanh nghiệp số lượng lớn: xem chính sách nhập sỉ của HTX Tâm Trà Việt hoặc mở đại lý chè Thái Nguyên.

Nguyễn Văn Lâm – Trưởng phòng Marketing, HTX Tâm Trà Việt
Người chịu trách nhiệm nội dung

Nguyễn Văn Lâm

Trưởng phòng Marketing, HTX Tâm Trà Việt

Phụ trách nội dung chia sẻ và truyền thông của HTX Tâm Trà Việt. Anh viết những bài gần với đời sống người uống trà: mẹo dùng trà hằng ngày, gợi ý quà tặng, xu hướng đồ uống và cách chọn trà cho từng dịp. Mọi nội dung đều được đối chiếu lại với xưởng sản xuất tại Đại Từ – La Bằng trước khi đăng.

Xem đội ngũ HTX Tâm Trà Việt →

Đang xem: 16 dáng ấm tử sa kinh điển và cách chọn theo loại trà